Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Người giàu hà tiện hay hào phóng?

Một chuỗi nghiên cứu có vẻ cho thấy người giàu keo kiệt hơn và ít đáng tin cậy hơn, nhưng điều này có đúng không?
Có thể đôi lúc bạn thấy trong một quán bar, người giàu nhất trong nhóm có vẻ là người chậm nhất rút ví khi đến lượt trả tiền một chầu rượu. Phải chăng tính họ vẫn luôn bủn xỉn như thế và vì thế mà họ giàu? Hay là vì họ giàu nên họ mới bủn xỉn?
Đây là một câu hỏi phức tạp và có thể được tiếp cận theo nhiều cách. Ta có thể lấy một nhóm người được cho là quan tâm đến chủ đề tiền, như là các nhà kinh tế, và so sánh sự hào phóng của họ với những người khác. Một nghiên cứu từ 1993 đã thực hiện việc này và thấy con số các sinh viên kinh tế thừa nhận không bỏ một đồng nào cho từ thiện gấp đôi số sinh viên như vậy học môn kiến trúc và tâm lý học. Nghiên cứu này cũng cho thấy sinh viên kinh tế cư xử kém thành thực trong trò chơi cần hợp tác như trò chơi Prisoner’s Dilemma.
Khi đánh giá sinh viên trong suốt quá trình học người ta thấy những sinh viên học các môn khác có mức hào phóng nhỉnh hơn lên vào thời gian sắp tốt nghiệp trong khi các sinh viên kinh tế vẫn giữ ở mức kém hào phóng trong suốt quá trình học. Tất nhiên đây là nói trung bình, chứ sinh viên kinh tế có tính vị tha thì cũng có.
Thực tế có một số bằng chứng cho hay những người nhiều tiền hoặc sống ở những khu khá giả có thể có tính vị tha nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu đã thử rải ở 20 địa điểm khác nhau ở London, mỗi địa điểm rải 15 bức thư, có đề địa chỉ và dán tem, trên mặt đường. Rồi họ đợi xem sẽ nhận được bao nhiêu bức thư do người tử tế qua đường nhặt và bỏ vào hòm thư. Ở những khu giàu có như Wimbledon thì 87% thư tới được nơi gửi, ở khu nghèo như Shadwell, chỉ 37%.
Những người giàu cũng thường có vẻ thể hiện hào phóng hơn qua những “hành động vị tha đặc biệt”, nghĩa là hành động ít được quần chúng thừa nhận và khó có hy vọng được đền đáp. Thí dụ Kristin Brethel-Haurwitz và Abigail Marsh ở Đại học Georgetown đã thử tìm hiểu vì sao tỷ lệ hiến thận cho người lạ thay đổi nhiều thế ở các bang khác nhau ở Mỹ.
Họ đã xem xét nhiều yếu tố kể cả lòng mộ đạo, nhưng yếu tố tiên đoán mạnh nhất là mức thu nhập trung bình. Đơn giản là ở các bang giàu hơn thì có nhiều trường hợp hiến thận hơn. Điều này không nhất thiết để chứng minh rằng cá nhân người giàu thì dễ hiến thận hơn người nghèo. Điều nêu lên ở đây là với nhiều lòng vị tha sẽ đưa đến cuộc sống khá giả trong quần chúng, nhưng cũng có thể vì khá giả hơn nên quần chúng có lòng vị tha hơn.

Image copyright

Do vậy trừ trường hợp đặc biệt của các sinh viên kinh tế còn thì những người giàu thể hiện là tốt qua nghiên cứu này. Nhưng với nghiên cứu của Paul Piff thuộc đại học Berkeley, California, thì không hẳn như vậy. Trong một nghiên cứu, ông cho một loạt lựa chọn tuyên bố để thử mức tự cho mình có quyền làm gì, thí dụ như ‘nếu tôi trên tàu Titanic, tôi đáng được lên thuyền cứ hộ đầu tiên.’ Điều đáng ngạc nhiên là một số người đồng ý với tuyên bố đó và họ thường là người giàu, hơn là người nghèo. Người giàu cũng thường cho rằng họ không bao giờ sai và giỏi mọi việc, và thường nhìn gương kiểm tra hình thức trước khi chụp ảnh.
Trong một nghiên cứu khác, Piff tập hợp một nhóm người có thu nhập khác nhau, có người tới 200.000 USD một năm, và đưa cho mỗi người 10 USD để làm quà tặng, cho bao nhiêu là tùy họ. Piff thấy rằng người nghèo phóng khoáng hơn người giàu.
Nhưng nhớ rằng những người này là giàu trước khi họ tham gia vào thử nghiệm của Piff. Có thể không phải vì họ giàu nên họ cư xử như vậy, nhưng với cách cư xử như vậy đã giúp họ trở nên giàu. Có thể do cân nhắc kỹ với đồng tiền cộng với lòng tự tin cao nên họ trở nên giàu.
Sẽ như thế nào nếu làm ai đó giàu lên một cách giả tạo? Họ sẽ thay đổi không? Để nghiên cứu Piff đã tổ chức chơi trò chơi Monopoly với “sự cải biến” thế. Việc tung đồng xu mở đầu trò chơi làm cho một người chơi có số tiền gấp đôi đối phương và nhận được 2 lần tiền mỗi lần vượt qua “Go”. Không có gì đáng ngạc nhiên, những người chơi có ưu thế bắt đầu thắng ván đó, nhưng Piff theo dõi sự tiến triển qua gương một chiều để xem cái gì sẽ thay đổi khi người đó được “giàu” lên một cách giả tạo. Nhiều người nói to hơn, hò reo và cho xe đua nhảy chạy ầm ầm quanh bàn cờ. Một số quơ phần bánh quấn thừng ở trong bát để trên bàn nhiều hơn phần của mình, và sau trò chơi, khi được hỏi vì sao họ thắng, họ bảo họ đã tập trung suy nghĩ và quyết định khôn khéo. Không một ai nói về lợi thế tài chính họ có được khi trò chơi bắt đầu. Do vậy có lẽ khi có tiền, thậm chí là tạm thời, có thể làm con người thấy mình quan trọng.
Piff cũng bỏ thời gian nấp gần vệt qua đường dành cho bộ hành ở Bay Area, San Francisco, để xem tài xế xe rẻ tiền hay xe đắt tiền hay dừng lại. Tất cả xe rẻ tiền đều dừng, chỉ 1/2 tài xế xe đắt tiền là dừng lấy lệ. Nhưng nghiên cứu này là khá nhỏ. Và tất nhiên là loại xe chỉ là tiêu chí đại diện của sự giàu có. Có thể xe là do tài xế của chủ xe lái hoặc xe là xe mua chịu của người không giàu.



Image copyrightGETTY
Image captionTỉ phú Warren Buffett tạo ra Giving Pledge vào năm 2010 để động viên những người siêu giàu để lại tài sản cho hoạt động thiện nguyện.

Stefan Trautmann ở Đại học Heidelberg đã thử tránh những bất trắc nói trên bằng một cuộc khảo sát có căn cứ đích xác với 9.000 người, thực hiện 4 lần một năm ở Hà Lan. Ông thấy rằng những người có địa vị kinh tế xã hội cao hơn có vẻ độc lập hơn và ít dính líu với người khác hơn. Nhưng khi họ chơi các trò chơi cần lòng tin tài chính thì người giàu dễ phản bội đối phương hơn là người nghèo.
Những nghiên cứu xem xét cư xử vị tha có vẻ mâu thuẫn, vậy những con số khó giải thích về tiền cho cho từ thiện thì như thế nào? Có phải trường hợp của Warren Buffet (nhà tỷ phú nguyện cho 99% sự giàu có của mình) là sự đặc biệt hiếm hoi hay là người giàu cho tiền với tỷ lệ trung bình cao hơn so với tiền lương? Ta có thể so sánh phần tiền mang cho từ thiện với tiền thu nhập. Những nghiên cứu cũ về lòng vị tha cho thấy biểu đồ này theo hình nụ cười vểnh lên (chữ U), với người nghèo nhất và giàu nhất lấy thu nhập của mình ủng hộ từ thiện với tỷ lệ cao hơn, trong khi những người ở khoảng giữa ủng hộ ít hơn. Nhưng nghiên cứu cũ này đã bỏ ra ngoài những người không cho từ thiện một tý nào, điển hình là những người rất nghèo nên không đủ tiền để cho ai, và có thể làm sai các con số.
Để tính đến việc này, những nhà nghiên cứu ở đại học Boston đã xem xét trong giải thu nhập từ 10.000 USD đến 300.000 USD, thấy rằng tỷ lệ trung bình rút thu nhập để cho từ thiện ở Mỹ là không đổi và khoảng 2,3%. Nhưng khi ta nhìn vào những người có thu nhập ở đỉnh cao (2% thu nhập là 300.000 USD), họ cho đi trung bình là 4,4% thu nhập. Do vậy xét theo nhóm thì những người siêu giàu có thể coi là những người hào phóng hơn về ủng hộ từ thiện.
Nhìn chung, nghiên cứu ở Boston mới thấy rằng người giàu không hào phóng hơn cũng như không bủ xỉn hơn tất cả những người còn lại chúng ta, trừ những người ở đỉnh trên cùng. Có thể bạn nói rằng họ có khả năng tài chính để cho, nhưng dù sao thì đã họ quyết định làm như vậy.
Vậy lần tới bạn nhận thấy ai đó giàu mà chậm trả phần tiền của họ ở quán bar thì đó là bản tính của họ chứ không phải đồng tiền làm họ bần tiện. Nghiên cứu cho thấy có rất nhiều sự hào phóng ở người giàu, nhưng có thể điều đáng để đề phòng là cư xử như thể mình có quyền, đặc biệt là khi chơi Monopoly.

Bạn gái tiết kiệm đến mức rót nước mắm không bao giờ thừa

Ngoài ra, em rửa mặt một chậu nước bé tí, rửa xong còn kêu để đó, đi vệ sinh xong dội. Tôi định nhiều lần góp ý nhưng sợ em tự ái.

Chúng tôi yêu nhau được 4 năm từ hồi sinh viên, ra trường được 2 năm và đều có công việc ổn định, sắp đi tới hôn nhân. Bạn gái tôi mọi thứ đều không có gì chê trách, ngoan ngoãn, khéo tay, hay nói và cũng hài hước. Tôi đổ cô ấy chính vì sự hài hước trong cách nói chuyện với bạn bè cũng như với người xung quanh. Bên em tôi thấy vui và cũng lây được tính hài hước đó, nhưng giờ thật sự đắn đo liệu có nên lấy em không? Càng yêu nhau tôi càng nhận thấy em tiết kiệm, rất tiết kiệm thì đúng hơn.



Trong mọi việc, ăn uống nếu ăn hàng không bao giờ em gọi món đắt tiền, lướt qua menu thấy món nào rẻ nhất thì gọi. Em bảo không thích nhưng tôi biết em nghĩ gì. Nếu đến nhà tôi ăn cơm, bảo làm gia vị chấm các món thì nước chấm hay bột canh em chỉ căn vừa đủ, giỏi một cái là không bao giờ thừa tí gì. Đến nỗi em gái tôi còn nói chị dâu tương lai đếm được cả giọt nước mắm, nấu canh hay cắm cơm không bao giờ thừa. Tôi không biết liệu mẹ có ưng em không, hỏi thì mẹ bảo tùy con, hạnh phúc là của con, mẹ không ngăn cản.

Nhà tôi gần trường cao đẳng em thực tập, có phòng cho thuê. Xác định đi tới hôn nhân nên mẹ bảo cho em một phòng rộng nhất nhưng em lại không ở, chọn phòng hẹp nhất, kêu ở một mình không cần rộng. Phải nói thêm, 3 tháng em thực tập thì nhà tôi tiền điện, tiền nước đều giảm được mấy trăm, đi khỏi nhà em đều nhớ tắt điện, tắt quạt, tắt mọi thứ, thậm chí quạt dùng xong không bao giờ tắt công tắc mà rút hẳn dây ra. Em bảo đọc báo thấy để dây vẫn tiêu thụ điện năng. Đôi khi mùa hè nóng quá, nhà tôi chỉ cần bật cái công tắc là xong, vậy mà có em đến, dùng cái gì cũng phải cắm dây. Nhà tôi xưa nay không quen vậy, tôi đoán mẹ cũng không thích kiểu tiết kiệm của em. Thêm một điều nữa, nếu tôi nhắn tin nói đi ngủ, em nhìn sang vẫn thấy có điện sáng kiểu gì cũng gọi điện bắt tôi dậy tắt, hoặc gọi tôi không được em lại gọi cho mẹ hay em gái tôi vào phòng tắt. Thậm chí em còn đi mua hết các bóng ngủ loại cảm ứng cho nhà tôi thay vào các phòng. Trước đây nhà tôi dùng loại thắp sáng cả ngày vì không đáng bao nhiêu điện.

Bảo nhà em nghèo nên tiết kiệm tôi không nói gì, nhưng nhà ở quê cũng rất khá giả, phải nói giàu hơn nhà tôi. Nhà tôi chỉ có vài phòng cho thuê, bố mẹ sống dựa vào đó không có lương, còn bố em chủ trang trại, doanh thu tháng khoảng vài trăm triệu, biệt thự to gấp mấy lần nhà tôi. Em bảo phải sống tiết kiệm thì con cái sau này mới học theo, không được hoang phí dù một hạt cát. Nói là làm, đến nước dùng em cũng tiết kiệm nhất. Mấy em sinh viên thuê thì tháng nào cũng 100 đến hơn 200 nghìn đồng tiền nước, còn em chưa bao giờ quá 50 nghìn đồng. Em rửa mặt một chậu nước bé tí, rửa xong còn kêu để đó, đi vệ sinh xong dội. Tôi định nhiều lần góp ý nhưng sợ em tự ái.

Một lần tôi nói em không nên tiết kiệm quá. Em cãi và nói tính như vậy, không phải tiết kiệm, nói muốn lấy em thì cố chịu, không thì thôi. Tôi yêu em nên từ đó không bao giờ nói gì nữa. Em thích hoa, thích trồng hoa nhưng các ngày lễ nếu tôi có tặng em lại kêu lãng phí, bảo tôi nên mua quà thì đỡ bị bỏ. Còn học sinh hay bạn em tặng hoa thì em lại hớn hở để khô đầy nhà không bỏ. Tôi mua quà mà đắt tiền em cũng nói. Quần áo mặc của em có cái áo khoác đắt nhất 500 nghìn đồng dù tôi làm kinh doanh không thiếu tiền. Đôi khi nghĩ những bữa nhậu của tôi vài triệu, em mà biết sau này ở với nhau chắc lại xích mích.

Nhưng em về quê hay đến nhà tôi lại rất thoáng, mua quà rất nhiều và đủ hết cho mọi người. Dịp gì mẹ tôi cũng có quà, em mua cho mẹ tôi còn nhiều hơn mẹ em. Nhiều lúc tôi không hiểu nổi em. Vừa rồi có anh MC kêu gọi ủng hộ miền Trung, em gửi cả tháng lương ủng hộ luôn. Em không nói mà tôi vô tình đọc được tin nhắn ngân hàng báo trong điện thoại em. Thật sự tôi không hiểu em tiết kiệm quá như vậy thì một năm dư bao nhiêu chứ? Khi ủng hộ thì bản thân làm công ăn lương được vài triệu, sao lại ủng hộ hết, chỉ cần 500 hoặc một triệu là được rồi. Liệu lấy nhau chúng tôi có hạnh phúc được không? Xin các bạn tư vấn giúp vì trong đầu tôi lúc nào cũng văng vẳng điều này mà không nói ra với ai.

Triết lý kinh doanh của người Hoa nhìn từ Sài Gòn - Chợ Lớn

Từ thời xa xưa, ở Sài Gòn đã phổ biến câu nói “Ăn mày Tàu".




Là vì đi ăn xin ở đâu thì đi, nhưng không thể vào khu người Hoa ở Chợ Lớn để xin được, vì người Hoa tuyệt đối không cho tiền người đi ăn xin, mà ngược lại họ sẵn sàng đưa tay ra để giúp đỡ, tạo cơ hội công ăn việc làm cho người nghèo khổ, sa cơ lỡ vận, để tự mưu sinh và sau đó có thể làm giàu.

Với người Hoa, cái gì cần xài, không sợ tốn kém, cái gì lãng phí khó mà móc được “hầu bao” của họ. Tướng quân Quản Trọng cũng đã từng khuyên vua, "Bệ hạ nên cho dân nghèo cái cần câu, hơn là cho con cá". 

Đối với cộng đồng người Hoa sinh sống tại Việt Nam hay với quốc gia nào khác, họ đều mang theo tinh hoa của triết lý này để thi thố làm ăn nơi xứ lạ, quê người. Nhiều câu châm ngôn trong cuộc sống và kinh doanh mà người Hoa nào cũng thuộc lòng và nhắc nhở cho nhau như: "Buôn Ngô buôn Tàu, không giàu bằng buôn hà tiện", hay "Biển rộng mặc biển, thuyền chèo có ngăn”…

Không thể phủ nhận tính cần và kiệm của người Hoa. Hai chữ “cần, kiệm” không chỉ có ý nghĩa triết lý suông, mà nó đã trở thành triết lý kinh doanh của người Hoa trong mọi thời đại. Vào các thập niên đầu và giữa thế kỷ XX, có nhiều tấm gương làm giàu nay đã trở thành giai thoại từ cộng đồng người Hoa ở Sài Gòn. 

Chuyện kể rằng, Quách Đàm và chú Hỏa xuất thân từ nghèo khó, cuộc sống của họ chỉ dựa vào gánh ve chai, nhưng do cần kiệm miệt mài làm việc mà họ trở thành đại phú gia thời ấy. Hay giai thoại "công tử co thùng", đối với các đại phú gia Hoa kiều trước khi muốn con cái gìn giữ và phát triển sản nghiệp của gia đình, họ gửi các chàng công tử này đến các cơ sở để rèn luyện tính kiên nhẫn ngay từ nhỏ. 

Để xin được vào làm việc tại một cơ sở nào, họ cũng phải trải qua quá trình xét tuyển như những người công nhân khác. Khi được tuyển vào, công việc trước tiên các chàng công tử này là phải xuống bếp cọ thùng như những công nhân. Đây là một cách đào luyện con cái họ khi trở thành doanh nhân có đủ kinh nghiệm và tính kiên nhẫn trong vai trò người chủ trong tương lai.

Một yếu tố khác mang tính đặc trưng của người Hoa. Đó là tính cộng đồng của họ rất cao. Trong kinh doanh, họ lập ra nhiều bang hội, nhưng các bang hội không phải là nơi tụ hội ăn chơi mà để nâng đỡ, tạo cơ hội cho mọi người trong cộng đồng có thể gây dựng cơ nghiệp làm ăn. 

Trước khi có tín dụng ngân hàng cho vay dự án kinh doanh, các bang hội người Hoa đã biết triển khai tín dụng, qua hình thức "hụi thảo", một loại hình chung tay giúp vốn cho những người muốn ra làm ăn nhưng thiếu vốn. 

Nhưng sau khi giúp vốn, người Hoa còn tích cực hơn với "hậu tín dụng", đó là chung tay giúp doanh nghiệp còn non trẻ. Nếu là mở hàng ăn thì họ kéo nhau đến ăn, nếu sản xuất giày dép thì họ tìm đến mua giày… 

Nhưng trước hết, chính những đối tác được giúp đỡ đó phải chứng tỏ sự tích cực về tính kiệm cần cao độ. Một số đại gia có thương hiệu vang dội ngày nay là do từng được giúp và áp dụng tinh thần kiệm cần, như thương hiệu giày dép Bình Tiên, bánh ngọt Đức Phát… là những điển hình cụ thể. 

Bắt đầu là "tiểu phú do cần" sau trở thành "đại phú do trời". Trời nói ở đây là thời cơ khách quan đưa tới. Nhưng thời cơ chỉ đưa tới cho những ai có tâm thành, sẵn sàng năng lực để tiếp nhận khai thác. Đến đây thì triết lý kinh doanh phương Đông của người Hoa đã gặp triết lý kinh doanh của phương Tây, "Hãy tự giúp mình trước, rồi trời sẽ giúp anh sau".

Nhiều nhà nghiên cứu lý giải việc kinh doanh thành công của người Hoa là vì họ rất coi trọng chữ tín, trong làm ăn họ luôn đặt chữ tín lên hàng đầu. Trong nhiều lần tiếp xúc với giới truyền thông, một cựu Phó Tổng của Công ty CP Kinh Đô, cho biết: “Người Hoa có tầm nhìn kinh doanh rộng và dài. Họ luôn nhạy bén, có khát vọng đột phá, đi đầu và làm ăn lớn, chữ “tín” cũng xuất phát từ chỗ này”. 

Công ty bánh Kinh Đô (trước 1975 có tên gọi là Công ty Đô Thành), ban đầu chỉ là cơ ngơi nhỏ tại quận 6, Sài Gòn nhưng bây giờ cơ ngơi của Kinh Đô có tới 9 công ty, có mặt từ Nam chí Bắc. Trên thương trường, Kinh Đô có thể xem là một trong những đại gia đáng gờm trong ngành sản xuất mặt hàng bánh kẹo...

Theo Tiến sĩ Trần Khánh, Viện Nghiên cứu Đông Nam á, những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh người Hoa: “Nền tảng gia đình và chữ “tín” là báu vật; đề cao vai trò của tổ chức xã hội, nghiệp đoàn truyền thống; chấp nhận mạo hiểm và quyết đoán trong kinh doanh, được sự giúp đỡ đắc lực của tập thể, gia đình và bè bạn; đa dạng hóa, đa phương hóa hoạt động đầu tư; kết hợp giữa cách làm truyền thống với kiến thức và thực tiễn kinh doanh hiện tại...”.

Tại TP.HCM, cộng đồng người Hoa chỉ chiếm 7% dân số (khoảng 500.000 người), nhưng tỉ trọng doanh nghiệp người Hoa lại chiếm 30% trên tổng số doanh nghiệp có mặt tại Thành phố, nơi được xem có vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước.

Điều đáng nói, hầu hết các doanh nghiệp này đều ăn nên làm ra, trong đó không ít doanh nghiệp có sản phẩm chủ lực cho thị trường, rất quen thuộc với người tiêu dùng không chỉ ở TP.HCM mà còn trong phạm vi cả nước. 

Chẳng hạn Công ty CP Bánh kẹo Kinh Đô, Công ty Bút bi Thiên Long, Công ty Dệt Thái Tuấn, Công ty Dây cáp điện Tân Cường Thành, Công ty CP Sản xuất ống thép Hữu Liên - Á Châu...

Trước 1975, khi Sài Gòn là “thủ đô” của chính quyền cũ, khu vực Chợ Lớn là nơi tập trung hàng nhập khẩu và hàng nội địa lớn nhất ở các tỉnh phía Nam. Người Hoa gần như giữ độc quyền về hoạt động thương mại (khoảng gần 90% bán buôn, 50% bán lẻ, 80% - 90% xuất nhập khẩu…). 

Những nhà buôn tầm cỡ của người Hoa thường là những đại lý độc quyền, tổng phát hành và phân phối hàng cho các đại lý nhỏ, các cơ sở kỹ nghệ, sản xuất, kinh doanh. Họ có quan hệ làm ăn buôn bán với hơn 40 nước ở khu vực và trên thế giới.

Bên cạnh hệ thống các nhà buôn lớn, người Hoa ở quận 5 và Chợ Lớn còn làm chủ nhiều tiệm buôn nhỏ, vừa bán sỉ, vừa bán lẻ, đủ mọi mặt hàng, giống như những cửa hàng tạp hóa, mà người Hoa thường gọi là “chạp phô”. 

Chợ Lớn thực sự giữ vai trò trung tâm, chi phối thị trường thành phố Sài Gòn và Nam Việt Nam, tại khu vực này có một hệ thống chợ quy mô lớn, hoạt động có tính chất chuyên ngành như chợ Bình Tây, An Đông, La Cai, Tân Thành, Hòa Bình, Kim Biên…
Theo Tạp chí công nghiệp